Chúng ta là người Việt Nam

Chúng ta có chung dòng máu và màu da.

Chúng ta là người Việt Nam

Chúng ta nên yêu thương, hãy tha thứ và quên đi.

Chúng ta là người Việt Nam

Chúng ta phải bắt tay để xây dựng đất nước giàu mạnh.

Chúng ta là người Việt Nam

Chúng ta hãy yêu nước bằng lòng hăng say lao động.

Chúng ta là người Việt Nam

Chúng ta phải luôn tự hào về nguồn cội.

THEO DÒNG LỊCH SỬ (PHẦN I)

TRÍCH PHÓNG SỰ "HÀ NỘI NHỮNG ĐÊM KHÔNG NGỦ"

Sinh ra và lớn lên trên quê hương Bình Định, có lẽ vậy nên giọng của miền đất ấy đã ngấm vào tâm hồn của một con người, một giọng nói trầm ấm và âm vang có chút pha giọng của người miền Bắc nơi làm việc quen thuộc mà vẫn giữ lại được cái gốc của miền Trung thân quen. Đó là cảm nhận đầu tiên mà tôi gặp được đồng chí Trần Việt- Nguyên Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân. Đồng chí là người trực tiếp tham gia vào trận chiến 12 ngày đêm lịch sử của quân và dân ta.
Cái thời mà quê hương bị giặc phá hoang tàn, Ngô- Diệm theo lệnh của Mỹ trút những mảnh đạn, bom lên quê hương đau thương, trẻ nhỏ thì chưa thể làm gì nên theo lệnh của kháng chiến những đoàn học sinh cấp I, cấp II của miền Nam được tập kết ra Bắc học tập trong đó có cả đồng chí Trần Việt. Khi đó đồng chí Trần Việt mới 9 tuổi. Ra ngoài Bắc đồng chí được học tại trường Phổ Thông 3A Việt Đức Hà Nội. “Học hành chăm ngoan là những đức tính của người học trò khi ấy và chỉ với một mong ước nho nhỏ, đơn giản nhưng đầy khích lệ lũ trẻ là được gặp Bác Hồ một lần”- Đồng chí Trần Việt kể lại với chúng tôi. Đó cũng là cái thời mà để lại những kỉ niệm khó phai trong lòng đồng chí.
Thời thanh niên rồi cũng đã đến, cái khí thế hừng hực của tuổi xuân cùng lòng yêu Tổ quốc tha thiết đã thôi thúc người thanh niên ấy ra chiến trường:
“Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi” (Quê hương- Giang Nam)
Ngày 01 tháng 07 năm 1965 đồng chí Trần Việt nhập ngũ, mang trên mình bao lô, ra chiến trường ác liệt đối mặt với sự sống và cái chết nhưng tên gương mặt vẫn nở nụ cười với lòng tin vào sự thành công của Cách mạng.
Và khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1968, đồng chí được cử đi học lái máy bay, loại máy được coi là hiện đại nhất thời bấy giờ, máy bay B21. Lớp học có khoảng 100 học viên, sau khi được đào tạo lý thuyết, sau đợt kiểm tra sức khỏe lần 2 thì số lượng chỉ còn lại 50 đồng chí trực tiếp học bay để phục vụ chiến đấu. Và số lượng này còn sẽ được trải qua các đợt thử thách và lựa chọn của đơn vị, chọn ra những đồng chí có thành tích và khả năng chiến đấu cao, kỹ thuật lái máy bay tốt nên mọi người đều có ý thức tập luyện rất hăng say. Với trái tim đầy nhựa sống của tuổi trẻ, lòng yêu đất nước trước bóng giặc chưa tắt, trí thông minh và lòng ham học hỏi, lớp huấn luyện đã kết thúc khóa Tốt nghiệp vào năm 1968 với 32 người trong đó có cả Trần Việt. Đồng chí nhớ lại những cái tên thân quen, dù đã xa cái thời của tháng năm hào hùng nhưng những cái tên đó vẫn xứng danh anh hùng cho mãi về sau: Anh hùng Nguyễn Đức Sót, Anh hùng Nguyễn Tiến Châm, Nguyễn Văn Nghĩa…
Khi trực tiếp ra chiến trường chiến đấu, con người ta mới cảm nhận được cái đau thương của dân tộc mà những trang sử sách chỉ mới phản ánh được một phần mà thôi. Có lẽ vậy! Đối với đồng chí Trần Việt những khoảnh khắc về trận đánh, những lần bắn được chiếc máy bay của địch rơi, cảm xúc và… cả những lần chứng kiến cảnh đồng đội của mình bị hy sinh sẽ không bao giờ có thể phai nhạt trong tâm trí của đồng chí.
Hoạt động trong tổ bay của quân chủng phòng không, với nhiệm vụ của một phi công, đồng chí Trần Việt luôn trong tư thế sẵn sàng nhận lệnh chiến đấu. Hình ảnh của những chiếc máy bay phản lực quân sự của địch rải thảm bom đạn lên mảnh đất của quê hương mình càng làm tăng thêm lòng sục sôi và ý chí đánh giặc của đơn vị và của riêng đồng chí. Những mảnh bom đạn như càng đè nặng, cắn sâu vào trong lòng đất.., chua xót, đau thương, phản ánh tội ác của giặc mà nhân dân ta không thể nào tha thứ.
Nhiệm vụ không cho phép đơn vị ở tại chỗ mà luôn luôn phải cơ động, trực chiến sẵn sàng chiến đấu. Đơn vị của đồng chí đi nhiều nơi trên khắp miền Bắc như: Nội Bài, Yến Bái, Hòa Lạc… Dù cuộc sống sinh hoạt rất riêng không giống các đơn vị bộ đội khác nhưng các anh vẫn gần gũi và dựa vào nhân dân để chiến đấu. Bữa cơm cho phi công được coi là khá khẩm hơn các đơn vị khác nhưng đâu so được với thời bình, vậy mà… các anh vẫn ăn thật ngon chỉ với một mong muốn là có đủ sức khỏe đánh tan giặc xâm lược. Nơi ở cũng thật giản đơn, có thể chỉ là một mảnh chiếu rải ra trong khu nhà của trường học mà học sinh đã đi sơ tán hoặc cũng chỉ cần một nơi có chút yên tĩnh để nghỉ ngơi thiền quang, chùa tự.
Giặc điên cuồng bắn phá làng xóm, mảnh đất của quê hương ta hòng lấy lại được tinh thần của một hiệp định sắp ký kết buộc ta phải chấp nhận những yêu sách có lợi cho chúng sau năm 1968. Địch bắn phá cả ngày lẫn đêm vào các khu vực đông dân hoặc những nơi mà chúng nghi là nơi cơ yếu, quan trọng của ta. Trong tâm trí của người chiến sĩ cách mạng, vẫn hiện lên hình ảnh của những chiếc máy bay địch ném bom, rải thảm vào trận địa. Những lần bom được thả xuống là những lần đất rung chuyển, đất đai bắn tung tóe và những làn khói trắng nổ phồng như những quả nấm to khổng lồ vùi chặt lấy nhà cửa, xóm làng ta. Hồi trực ở Gia Lâm II, đồng chí chứng kiến những cảnh đau thương của đồng bào ta, rày vò mà không thể làm gì hơn. Nhà cửa trúng bom thì rụi nát, những ngôi nhà không trúng bom trận này thì lại trúng bom vào trận khác, hoặc là cháy nghi ngút khói trời; trâu bò chết; người người gồng gánh đi sơ tán theo lệnh của kháng chiến, những chiếc xe xích lô hoang tàn; trẻ nhỏ thì chúng biết làm sao đây? thôi thì bố mẹ đã ra chiến trường còn lại là người bà còng lưng nhưng vẫn cố gánh đứa cháu bằng thúng, mủng sơ tán. Mặt mày ai cũng sạn đen, hốc hác bởi những mảnh bom, đạn, bởi lòng căm thù giặc sâu sắc... Chúng rải bom mạnh nhất ở khu Khâm Thiên, các làng Phúc Yên, Thanh nhàn và rất nhiều khu phố của Hà Nội. Nhân dân ta vẫn một lòng đoàn kết, kiên chung đấu tranh chống trả địch bảo vệ từng tấc đất, con người.
Trầm ngâm! Nhớ lại hơn những giây phút của một thời lửa khói, đau thương mà oanh liệt khi được chúng tôi hỏi về kỉ niệm sâu sắc nhất của mình, đồng chí đã chậm rãi nói, giọng trầm xuống xót xa. Những hy sinh của đồng bào, đồng chí ta mà Mỹ ngụy gây ra đời đời không thể nào quên… Người xưa có câu: “trời đánh còn tránh miếng ăn”. Thế nhưng, những người chiến sĩ trong thời chiến không cho phép mình được ngồi đàng hoàng mà cầm bát cơm lên ăn cho tử tế được. Trực chiến luôn luôn là nhiệm vụ quan trọng vậy nên, bữa cơm đang ăn cũng phải bỏ nửa chừng để đi chiến đấu. Hình ảnh của bốn đồng chí trực chiến phải bỏ dở mâm cơm, khi làm xong nhiệm vụ rồi quay lại chỉ còn hai đồng chí như khắc vào tâm khảm. Hy sinh để chiến đấu bảo vệ quê hương mình là một điều đáng tự hào và các đồng chí không bao giờ nghĩ tới chuyện rằng mình sẽ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Dấn thân mình, đối mặt với bom đạn hay lập được chiến công không một chút vụ lợi cá nhân, tất cả đều một mong muốn một ngày nào đó đất nước được thống nhất, hòa bình, nhân dân được sống trong cảnh yên vui, hạnh phúc.
Mười hai ngày đêm chiến đấu, khi ở trong hầm trực chiến, khi ra ngoài trực tiếp đối mặt với hiểm nguy và cũng là những ngày tháng để lại cho đồng chí Trần Việt những kỉ niệm không hề phai nhòa theo năm tháng. Đồng chí vẫn nhớ như in ngày, giờ khi được chúng tôi hỏi về những kỉ niệm. Trước trận chiến đấu quyết định mười hai ngày đêm của nhân dân ta, đơn vị của đồng chí đã bắn rơi một chiếc F4 vào ngày mùng 8 tháng 7 năm 1972. Ngày 30 tháng 09 năm 1972 tiếp tục bắn rơi chiếc máy bay F4 thứ hai. Đến ngày 27 tháng 12 năm 1972 hạ một chiếc may bay F4 thứ ba. Hào hùng lắm! Khi nhìn thấy những chiếc máy bay rải bom của địch bị ta hạ gục. Cái ngày mà chiếc F4 bị đơn vị bắn rơi đầu tiên đã để lại một niềm hân hoan, khó tả trong đồng chí. Nhiệm vụ đánh địch được quán triệt ngày từ đầu và tất cả các anh em trong đơn vị cũng chỉ muốn “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” để giành lại thống nhất, độc lập cho tổ quốc. Lập chiến công nhưng có ai màng đến cái gọi là chiến công! Hi sinh rồi để lại cho người đời những tấm ân tình sâu sắc. Các anh chỉ thích nhất là được đeo huy hiệu của Bác Hồ chứ không hề nghĩ tới lập chiến công cho riêng mình.
Nhiệm vụ của đơn vị là thực hiện ý đồ của Quân chủng, còn Quân chủng thực hiện ý đồ của Bộ Quốc phòng giao. Đơn vị của đồng chí Trần Việt có nhiệm vụ đánh vào ngòi hỏa lực của tên lửa, pháo tầm thấp và tầm cao, bảo vệ thủ đô không cho các đầu máy bay của địch có khả năng vào vùng Hà Nội. Vậy nên, chiến công của các đồng chí không phải bắn rơi được nhiều máy bay của địch mà là chặn được số bom đạn mà Mỹ dự kiến sẽ rải vào thủ đô và ngăn chặn được những chiếc máy bay ở các vùng lân cạn tiến vào thủ đô.
Tấm lòng kiên chung của những người con yêu Tổ quốc cộng với sự động viên và chỉ đạo kịp thời từ Ban lãnh đạo đã giúp các đồng chí hoàn thành xuất sắc của mình. Cán bộ chỉ huy như đồng chí Đặng Tính, đồng chí Đào Đình Luyện, đồng chí Mạnh… có một khối kinh nghiệm khổng lồ về “Nghệ thuật quân sự” từ thời chống Pháp đã kịp thời đốc thúc, củng cố, động viên tinh thần anh em, đồng chí trong đơn vị. Ngoài ra, anh em còn được nhân dân che chở, đùm bọc, đó cũng chính là nguồn động viên, miền hậu phương vững chắc về tinh thần khi các anh bước ra ngoài trận địa đối mặt với bom đạn.
Hàng trăm chiếc máy bay của địch ngày đêm bắn phá, bắn phá không ngừng nghỉ, bắn phá bất cứ nơi đâu. Những đội hình bay gồm ba chiếc máy bay rải thảm bom đạn của chúng cứ thay nhau làm việc không ngừng nghỉ. Đất dường như không còn chút hơi thở vì những lượt bom đạn từng giây dày xéo. Rồi những chiếc B52 của địch xuất hiện trên bầu trời Hà Nội,gầm rú như những con mãnh hổ tưới hàng trăm tấn bom đạn lên quê hương ta. Thương lắm! Những cụ già, bầy trẻ thơ hay cả những trai tráng ra chiến trường vì nghĩa lớn bị lớp bom đạn ấy hủy hoại. Tiếng khóc của người mẹ vì con, của người vợ vì chồng, của người con vì bố dường như có thể át được cả tiếng bom, tiếng đạn ngoài kia. Nhưng… những kẻ không trái tim ấm nóng kia sao có thể hiểu được. Và ít ai có thể dự đoán nổi, một dân tộc nhỏ bé ấy lại có thể thắng được một nước lớn, hùng mạnh. Có phải chăng, cái độc lập tự do chính nghĩa cuối cùng rồi cũng sẽ thắng được cái phi nghĩa của những kẻ phi nghĩa.
Những chiếc B52 được coi là máy bay tối tân nhất thời bấy giờ lần lượt bị ta bắn rơi. Mỹ đâu có biết, Việt Nam ta giỏi thế! Những anh hùng phát minh, chế tạo tên lửa có tầm bắn xa hơn, phóng lên không trung với tầm xa khoảng tám nghìn mét đã chạm tới ngưỡng của B52 khi bay trên bầu trời Hà Nội. Những anh hùng với chiến công bắn rơi những chiếc máy bay B52 của Mỹ như Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều, Vũ Đình Trọng…thì tên còn gắn mãi với thời gian và lịch sử của dân tộc.
Nhớ lại một thời hào hùng, khí thế tiến công quân địch của quân và dân ta trong suốt 12 ngày đêm lịch sử từ ngày tháng đến ngày tháng năm 1972 ta không thể không nhắc đến những binh đoàn ngoài chiến trận, nhưng cũng không thể bỏ qua hậu phương vững chắc bên trong. Tình anh em, đồng chí nào đâu đếm được. Tình quân dân mãi mãi chẳng thể nào phai. Đoàn kết là một sức mạnh không một kẻ địch nào có thể đấu lại nổi dân tộc ta. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn song vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và cướp nước”. Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân tộc ta từ thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… và chúng ta có quyền tự hào thêm về một áng anh hùng ca lịch sử của thời đại chống Pháp, chống Mỹ.
Kết thúc thắng lợi 12 ngày đêm lịch sử, một trận “Điện Biên Phủ” thứ hai được nhân dân và chính quyền ta gọi- Trận Điện Biên Phủ trên không, một chiến thắng làm rung chuyển chế độ ngụy quân, ngụy quyền, buộc Mỹ phải tuyên bố Mý hóa chiến tranh trở lại đối với Việt Nam, buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.
Chứng kiến cảnh Hà Nội sau những trận bom mưa, nay trở lại yên bình tuy còn sơ xác tiêu điều nhưng trong lòng người chiến sĩ cách mạng Trần Việt cảm thấy rộn rã, vui sướng biết bao. Hà Nội giải phóng rồi, thủ đô, trái im của cả nước đã bình yên trở lại và đón những người con sơ tán trở về… rộn rang, đầy sức xuân. Trên khuôn mặt của ai cũng hiện lên một nụ cười tươi, những khuôn mặt xám xịt trước kia nay rạng rỡ, tươi vui. Một niềm vui khó tả!
Cuộc đời binh nghiệp ai đoán trước được điều gì. May mắn là đồng chí vẫn còn đây… Sau khi giải phóng thủ đô, đồng chí Trần Việt còn đi rất nhiều chiến trường, phục vụ cho cách mạng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đất nươc giải phóng, vẫn theo bước chân người lính. Năm 1976, đồng chí lập gia đình ở ngoài Bắc, sinh được hai người con giờ cũng đã trưởng thành và công tác trong đơn vị của các hang hàng không Việt Nam.
Đồng chí có điều gì nhắn nhủ với thế hệ trẻ ngày nay? Câu hỏi cuối cùng của chúng tôi trong buổi gặp mặt và nói chuyện với Trung tướng Trần Việt.
Điều mong muốn trước tiên của người chiến sĩ cộng sản đối với thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay là hãy yêu quê hương, đất nước mình. Các thế hệ cha anh đi trước đã bảo vệ và giành lấy độc lập tự do cho dân tộc cớ sao thế hệ trẻ lại không làm được? Dù khó khăn vẫn phải giữ gìn mảnh đất của quê hương mình, không được lùi bước trước quân thù. “Quê hương là chùm khế ngọt”, quê hương cũng chính là người mẹ hiền đã nuôi dưỡng ta khôn lớn… Tình yêu quê hương đất nước trong thời đại ngày nay chính là việc làm của các thế hệ thanh thiếu niên ra sức học tập, nghiên cứu, trau dồi những kiến thức lý luận và thực tiễn; phản biện lại những tư tưởng đi ngược lại với chính sách, đường lối của Đảng, chống lại những tư tưởng cực đoan, thâm thù mà các thế lực thù địch tuyên truyền, tiêm nhiễm… Rèn luyện đức tính tự lập từ khi còn nhỏ cho mỗi công dân, như vậy sẽ tránh được những tư tưởng trông mong, ỷ lại, phát triển thêm trí tuệ của mỗi người.
Điều thứ hai đồng chí nhắn nhủ tới thế hệ trẻ là “Ta phải bảo vệ Đảng”. từ khi đất nước ta thống nhất, Đảng ta cũng bước sang một trang sử mới, sứ mệnh mới. Đó là tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Đường lối của Đảng ta có những giai đoạn đã mắc phải những sai lầm, nhưng Đảng ta đã kịp thời sửa chữa khuyết điểm. Công cuộc cách mạng đất nước do Đảng ta lãnh đạo chưa hề thay đôi bản chất từ khi thành lập Đảng cho đến nay, đó là xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phát triển kinh tế theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, nhân dân ta được sống trong hòa bình, yên vui. Mặt khác, thực tiễn cách mạng cũng đã chứng minh, nhân dân ta cũng đã chứng kiến được cảnh đổi thay ngày càng tốt đẹp của đất nước. Những điều đó đều do đường lối chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam tạo ra chứ không phải ai khác. Đồng chí khẳng định “Chỉ có Đảng cộng sản mới lãnh đạo được nhân dân bảo vệ được nhân dân và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc phát triển”
Sau những ngày tháng hi sinh, gian khổ, con người ta dường như càng biết trân trọng hơn những thứ đã qua, đã từng là kỷ niệm của một thời gắn bó. Đồng chí đã kể cho chúng tôi thật nhiều về những năm tháng trong quá khứ, những hi sinh, tổn thất của dân ta, của dân tộc ta khi bị tên đế quốc xâm lược. Nhưng kể làm sao cho hết được những đau thương đo bằng xương máu và tính mạng của dân ta, những tội ác tày trời mà Mỹ ngụy đã gây ra trên mảnh đất quê hương còn vương tới tận ngày nay? Hãy xem xét lịch sử cùng với những hành động hiện tại để xây dựng đất nước ta ngày càng tươi đẹp.









XÉT XỬ KẺ TRỐN THUẾ LÊ QUỐC QUÂN

                                      Xét xử kẻ trốn thuế Lê Quốc Quân

Sáng nay ngày 02/10/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án trốn thuế xảy ra tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam, trụ sở tại nhà A9-D5, phố Dịch Vọng Hậu, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Trước đó, ngày 27/12/2012, Cơ quan điều tra đã thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Lê Quốc Quân (sinh năm 1971 tại Nghệ An), Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam, và Phạm Thị Phương (sinh năm 1982 tại Hòa Bình), kế toán Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam, về tội danh trốn thuế, được quy định tại Điều 161- Bộ luật Hình sự.

Theo chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được, Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam, thành lập tháng 4/2001 với hai thành viên do Lê Quốc Quân làm giám đốc và đại diện theo pháp luật từ khi thành lập cho đến khi bị bắt.

Công ty này đã thay đổi đăng ký kinh doanh lần thứ 13 vào ngày 5/6/2012; với ngành nghề kinh doanh là cập nhật, tìm kiếm lưu trữ, xử lý dữ liệu, dịch vụ nghiên cứu và cung cấp thông tin thị trường.

Từ khi thành lập công ty đến khi bị bắt, Lê Quốc Quân đã ký nhiều hợp đồng với các cá nhân, doanh nghiệp ở trong và ngoài nước (chủ yếu qua skype, email), mở sáu tài khoản tại hai ngân hàng BIDV và Vietcombank, nhận tiền từ nhiều nguồn khác nhau.

Tổng số tiền Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam thu được qua hoạt động kinh doanh là 13,318 tỷ đồng, trong đó có 588.000 USD (Lê Quốc Quân đã bán cho ngân hàng để rút tiền VNĐ).

Quá trình hoạt động, Lê Quốc Quân nhận thấy Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam phải xuất hóa đơn cho các đối tác khi ký hợp đồng nhưng không phải nộp thuế giá trị gia tăng (thuế xuất bằng 0), do vậy doanh số kinh doanh lớn.

Để làm tăng chi phí, giảm thu nhập cho công ty nhằm mục đích trốn thuế thu nhập doanh nghiệp, Lê Quốc Quân đã chỉ đạo kế toán, thủ quỹ thực hiện các hành vi sai phạm như nhờ một số người thân quen có bằng cấp kế toán, tài chính... để lấy thông tin của họ rồi đưa vào các hợp đồng thuê chuyên gia tư vấn với Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam, lập khống hợp đồng tư vấn môi giới thương mại, mua hóa đơn giá trị gia tăng khống, sau đó sử dụng để kê khai tại Chi cục thuế quận Cầu Giấy, gồm: Tờ khai thuế giá trị gia tăng; bảng kê hóa đơn; chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào, bán ra; tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính; tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân; báo cáo tài chính... do Lê Quốc Quân ký và đóng dấu nộp tại Chi cục thuế quận Cầu Giấy.

Bằng thủ đoạn trên, chỉ tính riêng trong hai năm 2010 và 2011, Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam đã lập và ký hợp đồng với chín chuyên gia tư vấn nhằm tăng chi phí và giảm thu nhập cho Công ty với số tiền là 1,75 tỷ đồng. Số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp Công ty này đã trốn là hơn 649 triệu đồng.

Cũng trong năm 2010 và 2011, thông qua Phạm Thị Phương và Nguyễn Thị Thơm, Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam đã mua nhiều hóa đơn giá trị gia tăng khống của nhiều Công ty với nhiều mặt hàng, qua đó khai tăng chi phí doanh nghiệp nhằm trốn thuế thu nhập doanh nghiệp.

Tại Cơ quan Điều tra, Phạm Thị Phương và Nguyễn Thị Thơm cùng một số đối tượng liên quan đã nhận thức được sai phạm và khai rõ toàn bộ hành vi sai phạm của Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam trong việc thuê chuyên gia tư vấn khống, dùng hóa đơn giá trị gia tăng khống để khai tăng chí phí của doanh nghiệp nhằm mục đích trốn thuế thu nhập doanh nghiệp.

Những người được cho là chuyên gia tư vấn cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam cũng trình bày rõ, họ không tham gia làm gì cho Công ty này, không nhận số tiền hàng trăm triệu đồng như phiếu chi mà chỉ ký hợp đồng, phiếu thu, phiếu chi hợp thức cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam. Mỗi người phải ký 12 hợp đồng, 12 phiếu thu, 12 phiếu chi/lần. Sau khi ký hợp thức, mỗi người được Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam trả từ 01-03 triệu đồng.

Là bị can trong vụ án hình sự-kinh tế, qua điều tra cho thấy Lê Quốc Quân đã chỉ đạo nhân viên cũng như trực tiếp thực hiện các thủ đoạn man trá, gian dối nhằm chiến đoạt tiền thuế, một loại tội phạm các quốc gia đều lên án, trừng trị nghiêm khắc, nhưng ngay sau khi Cơ quan điều tra phát hiện, khởi tố vụ án đã có một số cá nhân, tổ chức nước ngoài, chức sắc tôn giáo lên tiếng xuyên tạc vụ việc, kích động, đưa ra cái gọi là "thỉnh nguyện thư," "đơn kiến nghị," "đơn đòi trả tự do cho Lê Quốc Quân."

Rõ ràng, đây là những hành vi không thể chấp nhận được núp sau nó là các động cơ chính trị rõ ràng nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, gây phức tạp tình hình để trục lợi. Lửa truyền thống xin chia sẻ với các bạn về sự thật này, làm sáng tỏ nó trước những tin xuyên tạc của lũ rận lông mu.
Thân ái!

MỪNG SINH NHẬT ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP.

                    MỪNG SINH NHẬT ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP.

25 tháng 8 năm 2013, Mừng sinh nhật thứ 102 Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Lửa Truyền Thống xin gửi tới các bạn những thông tin về vị tướng kiệt xuất “binh thư văn sử thảy tinh thông”  này…
Thời thơ ấu
Gia đình cụ Nghiêm thuộc diện nghèo trong làng, quanh năm phải vay nợ nặng lãi của các nhà giàu như nhà Khóa Uy, một Hoa kiều giàu có ở làng Tuy Lộc kề bên. Võ Nguyên Giáp đã có lần theo mẹ chèo thuyền chở thóc đi trả nợ. Tuy còn nhỏ tuổi, nhưng những câu chuyện đêm đêm mẹ kể cho cậu nghe về tướng quân Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, kêu gọi các sĩ phu và dân chúng đứng lên chống Pháp bảo vệ non sông, còn cha nói về phong trào đánh Pháp qua bài vè “Thất thủ kinh đô” đầy cảm động, đã gieo vào lòng cậu bé những ấn tượng không bao giờ phai mờ, góp phần nuôi dưỡng ý chí cho sự nghiệp cách mạng sau này.
Cha ông là một nhà Nho nên dạy dỗ con cái rất nghiêm cẩn trong sinh hoạt gia đình và học hành, giữ gìn nề nếp gia phong của đạo Khổng. Ông khuyên dạy con: "Chữ Nho là chữ của Thánh hiền, là nho sinh, các con không được nghịch ngợm, dẫm đạp lên sách vở chữ Nho". Ông dạy đám học trò cùng hai con ông: Tạm thiện tự, Ngũ thiên tự và cả Ấu học tân thư. Năm tháng học chữ Nho không nhiều nhưng những đạo lý học được trong các sách của Thánh hiền Nho gia, đặc biệt là Ấu học tân thư, đã có ảnh hưởng sâu sắc trong cả cuộc đời ông.
Học xong lớp 3 cậu phải xuống thị xã Đồng Hới học tiếp, Đồng Hới thuộc tỉnh lỵ Quảng Bình, cách làng An Xá của cậu trên 20 cây số, nằm bên bờ Nhật Lệ trong xanh lung linh soi bóng Lũy thầy, với thành cổ bao quanh từ thời Gia Long năm thứ 10 (1812) và được xây lại bằng gạch năm Minh Mạng thứ năm (1824).
Những năm học ở thị xã Đồng Hới, cậu Giáp ở trọ nhà người quen của cụ Nghiêm. Cậu được gia chủ quý mến coi như con cháu trong nhà, không lấy tiền trọ, cậu được học với nhà sư phạm có tiếng, thầy giáo Đào Duy Anh. Hai năm học ở tiểu học Đồng Hới, hàng tháng cậu luôn đứng đầu lớp. Tại kỳ thi tốt nghiệp bậc sơ học, cậu đỗ đầu toàn tỉnh. Về làng cậu được dân làng nể trọng, gia đình rất tự hào về cậu.
 1925, Võ Nguyên Giáp rời trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình để vào Huế ôn thi vào trường Quốc học Huế (ông đỗ thứ hai sau Nguyễn Thúc Hào). Hai năm sau, ông bị đuổi học cùng với Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Phan Bôi sau khi tổ chức một cuộc bãi khóa. Ông về quê và được Nguyễn Chí Diểu giới thiệu tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng, một đảng theo chủ nghĩa dân tộc nhưng có màu sắc cộng sản thành lập năm 1924  miền Trung Việt Nam. Nguyễn Chí Diểu cũng giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào làm việc ở Huế, tại nhà xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng. Tại đây, Võ Nguyên Giáp bắt đầu học nghề làm báo, chuẩn bị cho giai đoạn hoạt động báo chí trong thời Mặt trận Bình dân Pháp.
Tháng 4/1927 tại trường Quốc học Huế lại diễn ra một cuộc bãi khóa rầm rộ với quy mô lớn. Nguyễn Chí Diểu bị tên giám thị Pháp chú ý, coi là kẻ cầm đầu những cuộc đấu tranh bãi khóa ở trường, nên đuổi học. Võ Nguyên Giáp liền bàn với Nguyễn Khoa Văn tiếp tục tổ chức bãi khóa để phản đối việc Diểu bị đuổi học. Cuộc bãi khóa của học sinh Trường Quốc học Huế lan rộng ra khắp các trường ở Huế và phát triển thành cuộc tổng bãi khóa. Võ Nguyên Giáp bị bắt rồi bị đuổi học, phải trở về quê nhà. Bỗng nhiên một hôm Nguyễn Chí Diểu lặn lội từ Huế về làng An Xá tìm gặp Võ Nguyên Giáp. Diểu mang theo một tập tài liệu về “Liên đoàn các dân tộc bị áp bức trên thế giới” và một số văn kiện cuộc họp của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu, trong đó có 2 bài phát biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Anh Giáp đọc rất xúc động.
Mùa hè năm 1928, Võ Nguyên Giáp trở lại Huế, bước vào đời của một chiến sĩ cách mạng. Tại Huế, Nguyễn Chí Diểu giới thiệu anh Giáp đến làm việc ở Quan Hải Tùng thư, một nhà xuất bản do Tổng bộ Tân Việt chủ trương, trụ sở đặt ở phố Đông Sa. Sáng lập viên là Đào Duy Anh. Tại đây Võ Nguyên Giáp có điều kiện tiếp xúc với những học thuyết kinh tế, xã hội, dân tộc, cách mạng. Đặc biệt là cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp” và tờ báo “Người cùng khổ” (Le Paria) do Nguyễn Ái Quốc viết từ Pháp gửi về.
Đầu tháng 10 năm 1930, trong sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và bị giam ở Nhà lao Thừa phủ (Huế), cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các giáo sư Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng... Sau này Liệt sỹ Nguyễn Thị Quang Thái chính là người vợ đầu tiên của Đại Tướng. Đại tướng có một con với Bà là Võ Hồng Anh. Chị Thái hẹn, khi con cứng cáp sẽ đi thoát ly hoạt động. Nhưng cả hai không ngờ lần chia tay năm 1940 cũng là lần vĩnh biệt, chị Thái bị giặc Pháp bắt giam và chết ngay trong ngục tù. Bà hi sinh khi còn rất trẻ, nhiều người biết đến bà như một hình tượng người phụ nữ mẫu mực, kiên trung, yêu nước.
Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế Đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế. Ông ra Hà Nội, học trường Albert Sarraut và đỗ. Ông nhận bằng cử nhân luật năm 1937 (Licence en Droit). Do bận rộn hoạt động cách mạng, vào năm 1938, ông bỏ dở học chương trình năm thứ tư về Kinh tế Chính trị và không lấy bằng Luật sư.
Từ 1936 đến 1939, Võ Nguyên Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội. Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân chúng.
Tháng 5 năm 1939, Võ Nguyên Giáp nhận dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm giám đốc nhà trường
Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh.
Chỉ sau một thời gian ngắn, Hồ Chí Minh đã thấy Võ Nguyên Giáp là người triển vọng nên liên hệ với Đảng cộng sản Trung Quốc và cử anh đi học quân sự tại căn cứ địa Diên An. Trên đường tới Diên An, anh được Hồ Chí Minh gọi quay lại vì tình hình thế giới có nhiều thay đổi lớn. Ở châu Âu, phát xít Đức đã xâm chiếm Pháp. Hồ Chí Minh nhận định tình hình Đông Dương sẽ chuyển biến nhanh, cần gấp rút trở về nước chuẩn bị đón thời cơ.
Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương trong năm này và bắt đầu các hoạt động của mình trong Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, một tổ chức chống phát-xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam. Năm 1941 đúng dịp tết Nguyên đán Tân Tỵ, Võ Nguyên Giáp cùng Hồ Chí Minh trở về Cao Bằng. Trong thời gian ở hang Pác Bó, Hồ Chí Minh tiên đoán cách mạng sẽ thành công vào năm 1945, một dự đoán chuẩn xác.
Ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh  Cao Bằng. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo hướng dẫn của Hồ Chí Minh, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy. Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ngày 25 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy đội quân này lập chiến công đầu tiên là tập kích diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần.
Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Võ Nguyên Giáp trở thành uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời (từ ngày 28 tháng 8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia  Dân quân tự vệ.
Trong Chính phủ Liên hiệp, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7 năm 1947 và từ tháng 7 năm 1948 trở đi). Cũng trong năm 1946, ông kết hôn với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai).
Ngày 19 tháng 12 năm 1946Chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, ông bắt đầu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống lại sự trở lại của người Pháp (1945-1954) trên cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ.
Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Không được đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào trước đó, không phải trải qua các cấp bậc quân hàm trong quân đội, Võ Nguyên Giáp thụ phong quân hàm Đại tướng vào ngày 28 tháng 5 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948, Ông trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam khi 37 tuổi. Sau này, trả lời phóng viên nước ngoài về tiêu chí phong tướng, Hồ Chí Minh đã nói: "Đánh thắng đại tá phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng phong thiếu tướng, thắng trung tướng phong trung tướng, thắng đại tướng phong đại tướng”. Cùng đợt thụ phong có Nguyễn Bình được phong Trung tướngNguyễn SơnLê Thiết HùngChu Văn TấnHoàng Sâm, Hoàng Văn TháiLê Hiến MaiVăn Tiến DũngTrần Đại NghĩaTrần Tử Bình được phong Thiếu tướngTháng 8 năm 1948, ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập.
Từ tháng 8 năm 1945 Võ Nguyên Giáp là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ Chính trị(thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951.
Như các danh tướng Việt Nam trong lịch sử, Võ Nguyên Giáp chú trọng nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại. Tư tưởng quân sự nổi tiếng của ông có tên gọi là Chiến tranh nhân dân kế thừa quan điểm quân sự Hồ Chí Minh, tinh hoa nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên, tri thức quân sự thế giới, lý luận quân sự Mác-Lênin và được đúc rút từ kinh nghiệm cá nhân được liên tục cập nhật trong nhiều cuộc chiến tranh mà nổi bật là chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.
Trong 9 năm trường kỳ đánh Pháp, Võ Nguyên Giáp đã có những sáng kiến quan trọng để phát huy sức mạnh quân sự và đã trở thành những kinh nghiệm quý báu như: "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung". Với chuyên gia quân sự Trung Quốc sang giúp huấn luyện quân đội, ông chỉ đạo chiến sĩ học tập, tiếp thu, nghiên cứu kỹ phương pháp của nước bạn, đồng thời nhắc nhở cán bộ, sĩ quan phải ghi nhớ việc tiết kiệm sinh mạng bộ đội do Việt Nam là nước nhỏ không thể nuôi nhiều quân.
Năm 1954, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh và Đảng Lao động tin tưởng trao cho toàn quyền chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi ra trận, Hồ Chí Minh đã dặn dò: "Cho chú toàn quyền chỉ huy. Trận này chỉ được thắng không được thua vì thua là hết vốn". Ông tự tin lên kế hoạch và chỉ huy 4 trong 6 sư đoàn bộ binh khi đó của Quân đội Nhân dân Việt Nam là 308, 304, 312, 316 và Đại đoàn sơn pháo 351 tấn công Điện Biên Phủ, đánh bại đội quân nhà nghề được trang bị hiện đại của Liên hiệp Pháp. Chiến thắng này đã đặt dấu chấm hết cho quyền lực của người Pháp tại Đông Dương sau 83 năm và đã đưa Võ Nguyên Giáp đi vào lịch sử thế giới như là một danh nhân quân sự Việt Nam, một người hùng của Thế giới thứ ba, nơi có những người dân bị nô dịch đã xem Võ Nguyên Giáp là thần tượng để hạ quyết tâm lật đổ chế độ thực dân xây dựng nền độc lập của riêng mình.
Đại sự ký hoạt động của Võ Nguyên Giáp đối với cuộc chiến tranh tại miền nam Việt Nam như sau:

Từ 1954 đến 1964.

Từ năm 1954 đến năm 1956, Võ Nguyên Giáp chủ trương đấu tranh hòa bình, yêu cầu Việt Nam Cộng hòa thực hiện Hiệp định Geneve vì một Việt Nam thống nhất, không chia rẽ về tình cảm và chính trị. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm đã thẳng thừng bác bỏ yêu sách này bằng Phong Trào Tố cộng Diệt cộng.
Từ năm 1957 đến năm 1958, Đảng Lao động đã có những cuộc họp bàn về cách mạng Miền Nam nhưng chủ trương, biện pháp đấu tranh vẫn chưa thay đổi, phong trào cách mạng tiếp tục bị đàn áp và tổn thất nặng nề.
Tháng 1-1959, khi hy vọng thi hành Hiệp định Genve không còn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị (mở rộng) lần thứ 15, Võ Nguyên Giáp giúp Bộ Chính trị và những người cộng sản miền nam do Lê Duẩn đứng đầu ban hành Nghị quyết 15 Bộ Chính trị, khẳng định việc giải phóng miền nam bằng đấu tranh vũ trang, cho phép những cán bộ kháng chiến còn lại ở miền nam tổ chức hoạt động vũ trang.
Năm 1959, được Bộ Chính trị đồng ý, Võ Nguyên Giáp đã quyết định thành lập Đoàn 559 mở đường mòn dọc dãy Trường Sơn để tiếp ứng phong trào cách mạng miền nam Việt Nam. Nhờ việc mở đường Trường Sơn, phong trào cách mạng và hoạt động du kích miền Nam phát triển rất mạnh. Sau 4 năm, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thành lập được một số đơn vị cấp trung đoàn.
Năm 1964, được Bộ Chính trị đồng ý, Võ Nguyên Giáp đã bí mật cử Nguyễn Chí Thanh, Lê Trọng Tấn vào chiến trường Đông Nam Bộ chỉ huy quân giải phóng miền Nam đánh lớn tại Bàu Bàng,Dầu Tiếng, Đồng Xoài... tạo chuyển biến chiến trường và thành lập các Sư đoàn 1, 2, 3, 5, 7, 9 nổi tiếng. Trong đó, Sư đoàn 1 trấn thủ Tây Nguyên, Sư đoàn 2 trấn thủ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Sư đoàn 3 Sao Vàng trấn thủ Bình Định, trung đoàn 10 trấn thủ Phú Yên, trung đoàn 20 trấn thủ Khánh Hòa, Sư đoàn 5 trấn thủ khu vực Sài Gòn - Gia Định, Sư đoàn 7 cơ động chiến đấu khắpQuân khu 7 gồm Lâm Đồng, Ninh Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Thuận, Bình Phước và Sư đoàn 9 di chuyển chiến đấu khắp Tây Ninh  Quân khu 9.

Từ 1965 đến 1972.

Năm 1965, chia lửa với Nam Bộ, Hoàng Minh Thảo, người học trò của Võ Nguyên Giáp ở trường Thăng Long được cử vào Mặt trận Tây Nguyên làm Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Mặt trận B3 thayChu Huy Mân chuyển sang chỉ huy Mặt trận duyên hải Nam Trung Bộ đến khi chiến tranh kết thúc.
Năm 1968, Bộ Chính trị  Bộ Thống soái Tối cao tại Hà Nội phát động cuộc Tổng Tấn công và Nổi dậy Tết Mậu Thân. Dù thiệt hại về nhân mạng to lớn, nhưng chiến dịch đã gây tiếng vang lớn, đánh bại Hoa Kỳ về mặt chiến lược và giành được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân phản đối chiến tranh tại Mỹ và trên toàn thế giới, buộc Hoa Kỳ phải ngừng ném bom miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán và dần rút quân khỏi Việt Nam. Đây là bước ngoặt của cuộc chiến tranh nhưng còn quá ít thông tin xoay quanh Võ Nguyên Giáp vào thời điểm này, chỉ biết ông cũng tham gia lập kế hoạch, song khi cuộc tổng tiến công diễn ra thì ông đang ở nước ngoài trị bệnh.

Từ 1972 đến 1975.

Cuốn hồi ức mang tên "Tổng Hành dinh trong Mùa xuân Đại thắng" do Võ Nguyên Giáp xuất bản lần đầu năm 2001 đã thuật lại những hoạt động của ông vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ từ năm 1972 đến năm 1975.
Năm 1972, sau đại thắng tại Chiến dịch Đường 9 Nam Lào, với kho vũ khí khá hùng hậu, Võ Nguyên Giáp chủ trương khuếch trương chiến quả bằng một kế hoạch quân sự ở Tây Nguyên, nơi có khả năng triển khai lực lượng lớn, đánh lớn, gây những khó khăn lớn hơn cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Kế hoạch này đã bị nhà lãnh đạo Lê Duẩn và Quân ủy trung ương bác bỏ do Tổng Cục tình báo 2 nhận được thông tin là Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã sớm biết và đã đón lõng tại Tây Nguyên. Đồng thời do ở gần nên mặt trận Trị-Thiên cũng dễ bổ sung đạn dược, quân số hơn, lại có 2 mục tiêu cực kỳ quan trọng là Huế và Đà Nẵng.
Một phương án mới được đưa ra. Quân Giải phóng sẽ chia quân mở 3 chiến dịch tại Trị-Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Sau 2 tháng, trước những thắng lợi lớn trong Chiến dịch Trị Thiênvà quân Giải phóng đã áp sát Huế, các lực lượng bổ sung được tiếp tục đưa vào đây, còn mặt trận Tây Nguyên thì buộc phải ngừng tiến công do hết dự trữ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề xuất vòng qua phía tây Huế, chia lực lượng và hỏa lực đánh vào Vùng Chiến thuật I. Tuy nhiên các đơn vị công binh mở đường do thiếu phương tiện nên thực hiện quá chậm, không kịp phục vụ mục tiêu chiến dịch (con đường này sau đó đã phát huy tác dụng vào chiến dịch mùa xuân năm 1975), 6 sư đoàn tham gia chiến dịch Trị Thiên gồm 312, 308, 324, 325, 320, 341 đã hành quân đánh trực diện từ phía bắc xuống Vùng Chiến thuật I, nơi có Quân đoàn I và lực lượng tổng trù bị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm các Lữ đoàn Biệt động quân, Sư đoàn Dù số 1  Sư đoàn Thủy quân Lục chiến số 1, được không quân và Hải quân Mỹ chi viện tối đa.
Trên địa hình nhỏ hẹp dài, bên núi, bên biển dẫn đến Vùng Chiến thuật 1, 6 sư đoàn tiến công trong tình cảnh liên tục bị bom rải thảm B-52, pháo kích từ chiến hạm Mỹ, pháo kích từ Vùng Chiến thuật 1. Quân Giải phóng bị chặn lại, chỉ chiếm được nửa phía Bắc tỉnh Quảng Trị. Theo thông tin gần đây cho biết, trong suốt 9 tháng chiến dịch, Sư đoàn 308 thương vong 70% quân số;Sư đoàn 312 đã bổ sung quân 13 đợt, mỗi đợt 500 người; Sư đoàn 320 thương vong 80% quân số. Các sư đoàn còn lại tham chiến đều mất ít nhất nửa số quân. Tổng thương vong lên tới hơn 30 ngàn người (trong đó gần 14.000 hy sinh). Chiến dịch cũng khiến Hà Nội tiêu tốn hơn 300.000 viên đạn pháo, gần 4/5 lượng đạn pháo trong kho, dẫn đến tình trạng thiếu đạn, chỉ còn 100.000 viên cuối năm 1974.
Cuối năm 1972, Võ Nguyên Giáp đã bố trí lực lượng đánh trả cuộc tập kích đường không của Không lực Mỹ suốt 12 ngày đêm. Thất bại trong chiến dịch này buộc Mỹ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris với những điều khoản nhân nhượng mà chính họ trước đó đã từ chối.
Năm 1974, để nắm vững tình hình thực tế chiến trường và có quyết sách đúng đắn, Đại tướng cùng Tư lệnh trưởng Đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên và chính ủy Đặng Tính đã vượt hàng trăm cây số đi thăm bộ đội Trường Sơn trên đường mòn Hồ Chí Minh và kiểm tra sự chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy dự kiến vào mùa Xuân 1975.
Năm 1975, Võ Nguyên Giáp đã tán thành đề xuất của Trung tướng Hoàng Minh Thảo chọn địa bàn Nam Tây Nguyên làm hướng tấn công chiến lược, xin ý kiến Bộ Chính trị và cử Đại tướngVăn Tiến Dũng vào Nam chỉ đạo đánh đòn "điểm huyệt" vào hệ thống phòng ngự của Việt Nam Cộng hòa tại Buôn Mê Thuột. Chính ông nhân đà thắng trận Buôn Ma Thuột, trực tiếp ra lệnh Trung tướng Lê Trọng Tấn gấp rút giải phóng Đà Nẵng trong 3 ngày. Chính ông đề xuất và ra quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh mà trong đó Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Trần Văn Trà làm Phó Tư lệnh, chỉ huy 5 cánh quân với sức mạnh của 20 sư đoàn đồng loạt tiến vào giải phóng Sài Gòn. Mệnh lệnh nổi tiếng nhất của ông chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh là "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng".